Quy định mới về thẩm quyền xử phạt, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

493 lượt xem
Thẩm quyền xử phạt và tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong một số trường hợp vừa được quy định rõ tại Nghị định số 68/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Quy định mới về thẩm quyền xử phạt, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính- Ảnh 1.

Thẩm quyền tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính trong một số trường hợp được quy định rõ tại Nghị định số 68/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trong đó, Nghị định số 68/2025/NĐ-CP sửa đổi Điều 24 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định về xác định thẩm quyền xử phạt và tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong một số trường hợp.

Theo Nghị định số 68/2025/NĐ-CP, việc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được thực hiện theo quy định tại Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vụ việc vi phạm hành chính do người có thẩm quyền thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đóng tại địa phương đang thụ lý, giải quyết nhưng phải chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt, thì việc chuyển hồ sơ có thể được quy định cụ thể tại các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước hoặc theo thứ tự sau đây:

a- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc tại địa phương;

b- Chánh Thanh tra bộ hoặc người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cao nhất trong ngành, lĩnh vực quản lý hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm. Vụ việc vi phạm hành chính có hành vi thuộc trường hợp tại điểm c khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính hoặc vụ việc có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là bất động sản, tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, các loại hàng hóa, phương tiện cồng kềnh, khó vận chuyển, chi phí vận chuyển cao thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

Vụ việc vi phạm hành chính có nhiều hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau mà trong đó có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thì thực hiện như sau:

a- Đối với những hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì xác định theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

b- Đối với những hành vi không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì xác định theo quy định tại các điểm a và b khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Thẩm quyền xử phạt đối với trường hợp áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành được xác định theo nguyên tắc và thứ tự sau đây:

a- Nếu người đang giải quyết vụ việc thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý quy định tại các điều từ Điều 39 đến Điều 49 và Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phụ thuộc vào thẩm quyền phạt tiền thì phải chuyển vụ vi phạm đến người có thẩm quyền xử phạt trong ngành, lĩnh vực đó có thẩm quyền tịch thu không phụ thuộc vào giá trị của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

b- Nếu người đang giải quyết vụ việc không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì phải chuyển vụ vi phạm đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm;

c- Nếu người đang giải quyết vụ việc có căn cứ để xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành, thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo quy định tại Chương II Phần thứ hai Luật Xử lý vi phạm hành chính và quy định của nghị định về xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định nêu rõ thẩm quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Theo Chinhphu.vn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

có thể bạn quan tâm

Từ năm 2026, hộ kinh doanh doanh thu thấp có phải nộp tờ khai thuế?

Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án chuyển đổi mô hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, trong đó bỏ hoàn toàn cơ chế thuế khoán từ ...

Nghị định số 70/2025/NĐ-CP: Từ 1/6, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nào sẽ phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền?

Nghị định số 70/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định đối tượng sử dụng, nội dung trên hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính kết nối chuyển dữ liệu ...

Bộ trưởng Bộ Nội vụ lưu ý việc bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức cấp xã

Bộ Nội vụ đang xây dựng bộ công cụ đánh giá hiệu quả công việc (KPI) để triển khai toàn quốc. Bộ trưởng Bộ Nội vụ đề nghị các địa ...

CHÍNH PHỦ THÔNG QUA HỒ SƠ ĐỀ ÁN SẮP XẾP CẤP TỈNH, CẤP XÃ

Chính phủ vừa ban hành các Nghị quyết thông qua hồ sơ Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 và Nghị quyết thông qua 34 ...

Quy định trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 18/2025/QĐ-TTg quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch đô ...